ĐÔNG Y VÀ KINH MẠCH
Xin quý khách
kiên nhẫn đọc hết bài viết này
Hầu thấy rõ
cái hay của bài cuối cùng.
Để kết hợp
với Ghế xông hồng ngoại
---oOo---
Mạch (Đông y)
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Mạch còn
gọi là bát mạch là tám đường lớn chứa chân khí trong con người. Các
mạch cắt ngang các đường kinh để tăng cường sự liên kết và lưu thông khí huyết. Tám mạch
bao gồm:
1. Đốc mạch ở sau lưng, quản trị các kinh dương
bắt đầu từ bộ phận sinh dục chạy dọc theo xương sống lên đỉnh đầu rồi vòng
xuống đến nhân trung.
2. Nhâm
mạch ở phía trước,
chịu trách nhiệm các kinh âm đi từ môi xuống ngực bụng rồi tới bộ phận sinh
dục.
3. Xung mạch còn gọi là huyết hải kiểm xoát khí
và huyết toàn cơ thể đưa đến 12 chính kinh, bắt đầu từ bộ phận sinh dục chia
làm ba nhánh, một chạy lên đầu, một nhánh chạy theo xương sống, một nhánh xuống
tới bàn chân.
4. Đới mạch chạy vòng quanh bụng như thắt lưng
nối liền các kinh âm và kinh dương.
5. Âm kiêu mạch bắt đầu từ gót chân chạy lên chân
bụng ngực tới miệng.
6. Dương kiêu mạch bắt đầu từ gót chân theo phía sau
vòng qua trước mặt rồi ngừng lại sau gáy.
7. Âm duy mạch từ gót chân chạy lên qua bụng ngừng
lại ở cổ.
8. Dương duy mạch từ gót chân lên theo chân qua người
vòng qua đỉnh đầu ra trước mặt.
+++++++++++++++++
Luận về 2 mạch Nhâm Đốc theo khoa Luyện Đơn
Nhâm
mạch là «Âm Kinh chi Hải». Đốc mạch là «Dương Kinh chi Hải»
Lý Thời
Trân trong quyển Tố Hồ Mạch Quyết viết: «Hai mạch Nhâm Đốc là 2 hướng Tí Ngọ
trong người, theo Đơn Gia thì là đường thăng giáng của Dương Hỏa và Âm Phù, và
là nơi Khảm Li giao cấu.»
Thôi Hi
Phạm, trong quyển Thiên Nguyên Nhập Dược Cảnh viết: «Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh
Quan, Quán Vĩ Lư, thông Nê Hoàn.»
Du Diễm
khi chú Tham Đồng Khế có viết:
«Nhân
thân khí huyết, vãng lai, tuần hoàn, ngày đêm không ngừng.
Sách
thuốc có 2 mạch Nhâm Đốc. Ai thông được 2 mạch ấy, thì mọi mạch đều thông.»
Huỳnh
Đình Kinh viết: «Tất cả đều từ Tâm nội vận Thiên Kinh, ngày đêm giữ nó sẽ
trường sinh» Thiên Kinh là Đường Hoàng Đạo trong ta, hô hấp vãng lai, đều do
đó. Vận Vĩ Lư, có thể thông Đốc Mạch, qui nạp tị tức (ngưng thở bằng mũi), có
thể thông Nhâm Mạch. Thông 2 mạch đó có thể trường thọ.»
Xem
bài link dưới :
+++++++++++++++++++++++
Mạch Nhâm
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Mạch
Nhâm (任脈) là mạch của của các kinh âm. Trong quan
điểm của y khoa cổ truyền phương
Đông thì mạch Nhâm
cùng với mạch Đốc tạo thành hai mạch chủ trọng trên cơ thể con người (một mạch
thâu tóm các kinh dương và một mạch thâu tóm các kinh âm).
Vị
trí
Khởi đầu
từ huyệt Hội Âm (nơi
giao nhau của mạch Nhâm với mạch Đốc), mạch Nhâm đi ngược lên bụng qua giữa
vùng mu, giữa bụng, giữa ngực, giữa cổ rồi kết thúc ở huyệt Thừa Tương.
Các
huyệt đạo
Các
huyệt quan trọng thuộc mạch Nhâm là Hội Âm, Trung Cực, Quan Nguyên, Khí
Hải, Hạ Uyển, Chiên Trung, Thiên Đột, và Thừa Tương.
Công
dụng
Đây là
mạch quan trọng trong Đông
Y, khí
công và võ
thuật Phương Đông.
Nhâm
mạch: Bắt đầu
từ huyệt hội âm (giữa bộ phận sinh dục với hậu môn) theo đường giữa phía trước
chạy qua mặt, lên sâu vào 2 con mắt. Nhâm mạch có tác dụng tổng quản âm kinh
của toàn thân, là Âm kinh chi hải.
Nhâm
mạch chủ trị: Bệnh
hệ sinh dục tiết niệu, bệnh tràng vị, bệnh chứng phế và hầu họng, bệnh thần
chí, cơ thể suy nhược, và bệnh chứng của bộ vị kinh này đi qua.
++++++++++++++++++++++++
Mạch Đốc
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Mạch
Đốc (督脉) là mạch trên cơ thể con người theo y
học cổ truyền phương
Đông. Mạch Đốc thâu tóm tất cả các kinh dương, là một trong hai mạch quan trọng
trên cơ thể con người.
Mô
tả
Mạch Đốc
bắt đầu từ chỗ huyệt Trường Cường chạy ngược lên theo cột
sống, qua giữa gáy lên đỉnh đầu rồi vòng xuống giữa mặt và kết thúc ở huyệt Ngân Giao.
Các
huyệt chính thuộc Mạch Đốc là Trường Cường, Yêu Du, Yêu Dương Quan, Mệnh Môn, Huyền Xu, Trung Tích, Trung Xu, Cân Súc, Chí Dương, Linh Đài, Thần Đạo, Thân Trụ,Đào Đạo, Đại
Chùy, Á Môn, Phong Phủ, Não Hộ, Cường Gian, Hậu Đình (Hậu Đỉnh), Bách
Hội, Tiền Đình (Tiền Đỉnh), Tín Hội, Thượng Tinh, Thần Đình, Tố Liêu, Nhân Trung, Đài Đoan, Ngân Giao.
Công
dụng
Đây là
bộ mạch tối quan trọng trong chữa bệnh Đông Y và võ thuật truyền thống Phương
Đông.
Đốc
mạch: Bắt đầu
từ hội âm, theo đường giữa phía sau lưng lên đỉnh đầu, đến trán, sống mũi, đến
phía ngoài lợi răng trên (huyệt ngân giao) và hoà hợp với nhâm mạch tại đây.
Đốc mạch có tác dụng tổng quản dương kinh của toàn thân, là Dương kinh
chi hải.
Đốc
mạch chủ trị: Bệnh
bộ vị đầu mặt, hầu họng và bệnh tâm, phế, tràng vị, bệnh hệ sinh dục tiết niệu,
bệnh phát sốt, bệnh thần chí, đại não phát dục không hoàn chỉnh, bệnh thiếu
bạch cầu, cơ thể hư suy, thần kinh suy nhược, và bệnh chứng của bộ vị kinh này
đi qua.
Xem
bài link dưới :
+++++++++++++++++++++++++++++++
Huyệt Hội Âm
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Hội
âm vùng nằm giữa hậu môn và phần ngoài bộ phận sinh dục. Tại đây có huyệt Hội âm, là nơi hội tụ của 3
mạch: mạch Nhâm, mạch Đốc và mạch Xung.
Trong y
học cổ truyền phương Đông thì
Hội âm được dùng để bấm điều kinh cường thận, thanh lợi thấp nhiệt, chữa các chứng
liên quan đến hệ sinh dục, hậu
môn và tiết niệu, đặc biệt các chứng như di
tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm, rối loạn kinh
nguyệt...
Hội
âm: Chỗ gặp nhau của tiền âm và hậu âm.
Tên
khác: Bình ế.
Vị
trí:
Đàn ông
thì lấy sau túi dái và trước lỗ đít, đàn bà thì lấy sau chỗ nối của môi lớn và
lỗ đít. Chỗ đó bắt đầu của mạch Nhâm, mạch Đốc, mạch Xung.
Mạch Đốc
từ Hội âm mà lên lưng, mạch Nhâm từ Hội âm mà lên bụng, mạch Xung từ Hội
âm mà đi theo túc Thiếu âm.
Chủ
trị:
Trị mọi
thứ bệnh trong âm bộ. Tiền âm, hậu âm cùng dẫn đau, viêm âm đạo, viêm niệu đạo,
đau dương vật, kinh nguyệt không đều, sa dạ con, viêm tiền liệt tuyến, không
thể đái ỉa được, cửa mình sưng đau, trĩ, ngứa gãi trong lỗ đít. Rơi chìm xuống
nước tắc thở (chết đuối), bảo người dốc ngược lên cho ra nước, châm bổ ở đó,
nước đái và phân ra được thì sống.
Tác
dụng phối hợp:
Cùng với
khúc cốt trị cơ tròn co thắt, bí đái ỉa.
++++++++++++++++++++++
Huyệt Trường Cường
Huyệt là Lạc của mạch
Đốc, ở giáp cột sống, đi lên đầu, tản ra ở vùng đầu, đường phân bố vừa dài
(trường) vừa cường, vì vậy gọi là Trường Cường (Trung Y Cương Mục).
Tên Khác : Cùng cốt, Hà Xa Lộ, Khí Chi Âm Khích, Mao Cốt Hạ Không, Mao Lư,
Mao Thúy Cốt, Quy Mao, Quyết Cốt, Tam Phân Lư, Tào Khê Lộ, Thượng Thiên Thê,
Triêu Thiên Sầm, Vĩ Lư.
Xuất Xứ : Thiên ‘Kinh Mạch’
(LKhu.10).
Đặc Tính :
+ Huyệt thứ 1 của mạch
Đốc.
+ Huyệt Lạc nối với mạch
Nhâm (qua huyệt Hội Âm).
+ Hội của mạch Đốc với
kinh Thận và Đởm .
+ Là 1 trong nhóm huyệt ‘Tuỷ
Không’ (Phong Phủ - Đc.16), Ngân Giao (Đc. 28), Á Môn (Đc.15), Não Hộ (Đc. 17)
và Trường Cường (Đc. 1) là những huyệt của tuỷ xương (thiên ‘Cốt Không Luận’,
(TVấn.60).
Vị Trí :
Ở chỗ lõm sau hậu môn và trước đầu xương cụt 0,3 thốn.
Huyệt Trường cương.
Giải Phẫu :
Huyệt ở trên đường thớ hậu môn - xương cụt, có cơ thắt ngoài hậu môn và cơ nâng
hậu môn (phần thắt) bám vào đường thớ này. Vào sâu là khoang dưới phúc mạc.
Thần kinh vận động
cơ do nhánh đáy chậu của dây thần kinh thẹn trong.
Da vùng huyệt chi
phối bởi tiết đoạn thần kinh S5.
Tác Dụng :
Thông mạch Nhâm, Đốc, điều trường phủ.
Chủ Trị:
Trị trực tràng sa, trĩ, tiêu ra máu, cột sống đau, tiểu đục, tiểu khó, điên
cuồng.
Phối Huyệt :
1.
Phối Tiểu Trường Du (Bq.27) trị táo bón, tiểu khó, tiểu buốt, tiểu bí (Thiên
Kim Phương).
2.
Phối Bàng Quang Du (Bq.28) + Cư Liêu (Đ.29) + Hạ Liêu (Bq,34) + Khí Xung
(Vi.30) + Thượng Liêu (Bq.31) + Yêu Du (Đc.2) trị lưng đau (Thiên Kim Phương).
3.
Phối Thân Trụ (Đc.13) trị động kinh (Tư Sinh Kinh).
4.
Phối Thừa Sơn (Bq.57) trị trĩ, tiêu ra máu (Bách Chứng Phú).
5.
Phối Thừa Sơn (Bq.57) + Tinh Cung (Chí Thất – Bq.52) + Tỳ Du (Vi.20) trị tạng
độc hạ huyết [tiêu ra máu do tạng bị độc] (Châm Cứu Đại Thành).
6.
Phối Bá Hội (Đc.20) + Nhị Bạch + Tinh Cung (Chí Thất – Bq.52) trị thoát giang,
trĩ lâu ngày (Châm Cứu Đại Thành).
7.
Phối Thừa Sơn (Bq.57) trị trường phong hạ huyết (Bách Chứng Phú ).
8.
Phối Bá Hội (Đc.20) trị thoát giang (Bách Chứng Phú).
9.
Phối Cách Du (Bq.17) + Can Du (Bq.18) + Nội Quan (Tb.6) + Thừa Sơn (Bq.57) trị
tiêu ra máu, tạng độc sưng đau, tiêu ra máu không ccầm (Châm Cứu Đại Toàn).
10. Phối Ẩn
Bạch (Ty.1) + Hạ Liêu (Bq.34) + Hội Dương (Bq.35) + Lao Cung (Tb.8) + Phục Lưu
(Th.7) + Thái Bạch (Ty.3) + Thái Xung (C.3) + Thừa Sơn (Bq.57) trị đại tiện ra
máu (Thần Cứu Kinh Luân).
11. Cứu
Trường Cường (Đc.1) 3 tráng + cứu Thủy Phân (Nh.9) 100 tráng trị thoát giang do
khí huyết hư mà hạ hãm (Thần Cứu Kinh Luân).
12. Phối Nhị
Bạch + Thừa Sơn (Bq.57) trị trĩ lâu ngày (Tạp Bệnh Huyệt Pháp Ca).
13. Phối Bá
Hội (Đc.20) trị thoát giang (Trung Hoa Châm Cứu Học).
14. Phối Âm
Lăng Tuyền (Ty.9) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) có tác dụng thúc
đe? [thôi sinh] (Châm Cứu Học Thượng Hải).
15. Phối Bá
Hội (Đc.20) + Đại Trường Du (Bq.26) + Thừa Sơn (Bq.57) trị trực tràng sa (Châm
Cứu Học Thượng Hải).
16. Phối Hội
Dương (Bq.35) trị đại tiện ra máu (Châm Cứu Học Thượng Hải).
17. Phối Bá
Hội (Đc.20) + Khí Hải (Nh.6) + Thừa Sơn (Bq.57) trị trực tràng sa (Châm Cứu Học
Thượng Hải).
18. Phối
Bạch Hoàn Du (Bq.28) + Hội Dương (Bq.35) trị trực tràng lở loét (Châm Cứu Học
Thượng Hải).
19. Dùng kim
tam lăng chích 4 chung quanh huyệt Trường Cường (Đc.1), sâu 0,5 - 1 thốn, nặn
ra máu, phối hợp với huyệt Yêu Kỳ + Điên Khốn trị động kinh (Châm Cứu Học
Thượng Hải).
Châm Cứu:
Châm thẳng vào bờ giữa xương cụt và trực tràng, sâu 0,3 - 1 thốn. Cứu 10 - 30
phút.
Ghi Chú :
Tránh châm thấu qua thành sau trực tràng.
Tham Khảo :
(“Trẻ nhỏ bị kinh giản,
co giật, xương sống cứng : Trường Cường chủ trị” (Giáp Ất Kinh).
(“Ttrị trẻ nhỏ thoát
giang cấp : cứu huyệt Vĩ Thúy 3 tráng khỏi ngay” (Ngoại Đài Bí Yếu).
(“Phương pháp cứu trĩ :
Bệnh trĩ nếu còn chưa nặng, cứu 1 huyệt dưới xương cụt gần hậu môn 7 tráng,
xứng đáng là huyệt kinh nghiệm” (Châm Cứu Tư Sinh Kinh).
(“Chín loại rò tổn
thương người, ắt châm Thừa Sơn (Bq.57) hiệu như thần. Còn có 1 huyệt là Trường
Cường, chữa rên rỉ cùng đớn đau” (Ngọc Long Ca).
(“Châm cứu trị trĩ ...
Thứ đến luận về Đốc mạch mà không thấy phép chọn của nó. Sách ‘Nội Kinh’ viết :
Đốc Mạch sinh bệnh, lung trĩ, bởi thế người đời sau chọn huyệt Trường Cường”
(Đan Khê Tâm Pháp).
(“Trường Cường chủ trị
các chứng cổ trĩ” (Thập Tứ Kinh Yếu Huyệt Chủ Trị Ca).
(“Trĩ bệnh, trường
phong, Trường Cường chớ khinh thường” (Thắng Ngọc Ca).
++++++++++++++++++++++
MẠCH XUNG
1-
ĐẶC TÍNH
•+ Biển của 12 kinh (‘Hải Luận’ - LKhu.33).
•+ Biển của Ngü Tạng, Lục Phủ (‘Nghịch Thuận Phì Sấu’ - LKhu.38).
+ Biển của Kinh Mạch (‘Nuy Luận’ - TVấn.44).
+ Chủ về phần khí - là con đường xuất khí của khí (Y Kinh Tinh Nghïa).
+ Kiểm soát khí Huyết toàn thân (Trung Quốc Châm Cứu Học KháiYếu).
+ Liên lạc với mạch Nhâm + Đốc rót khíù vào các kinh Thiếu Âm, hội với kinh
Dương Minh và Thái Dương (Nội Kinh Giảng Nghïa).
+ Quan
hệ với kinh túc Thiếu Âm và túc Dương Minh. Cùng với Mạch Nhâm + Đốc đều Khởi
lên ở bào trung và được gọi chung là “Nhất Nguyên Tam Kz” (Châm Cứu Học Thượng
Hải).
+ Quản
lý khí huyết của tạng Phủ và liên quan trực tiếp đến việc sinh đẻ (Châm Cứu Học
Việt Nam).
Là 1 kinh ở phía sâu bên trong xuất phát từ kinh Thận.
. Có 3 nhánh ở ngực, ở bụng và chi dưới.
. Có tác dụng chuyển tông khí của Thận. Khí này không vận hành đơn độc mà luôn
luôn đi với Doanh Khí và Vệ Khí.
. Tông
khí có tác dụng điều hòa nhiệt độ và chuyển vận tân dịch đến các cơ khớp
(‘Pathog ni Et Pathologie En Ergetiqués En Médecine Chinoise).
2-
ĐƯỜNG VẬN HÀNH
- Khởi
từ bào trung (ở bụng dưới), nhập vào hội âm, từ đó tách thành 2 nhánh:
+ 1 nhánh phía sau đi đến mặt trong của cột sống.
+ Nhánh
kia ở phía trước, theo mạch Nhâm đến huyệt Quan Nguyên, qua đường kinh Chính
Thận ở huyệt Hoành Cốt (Th.11), qua bụng đến tận huyệt U Môn (Th.21).
Đường
mạch ở bụng này có nhiều nhánh nhập vào kinh cân của trường vị.
- Lên
ngực ở huyệt Du Phủ (Th 27) nhánh ngực này có nhiều nhánh toả ra ở liên sườn
(TVấn 62).
- Lên họng, hợp với mạch Nhâm ở huyệt Liêm Tuyền (Nh 21).
Lên mặt và vòng quanh môi.
- Từ huyệt Hoành Cốt (Th.11), có 1 nhánh thứ hai chạy xuống mặt trong đùi và
dính vào kinh Chính Thận (TVấn 62).
- Xuống bắp chân, mắt cá chân trong và bờ trong bàn chân. Mạch này có nhiều
nhánh lan ra nhiều vùng khác nhau của chi dưới.
- Từ
huyệt Hoành Cốt (Th 11) có một nhánh khác đi qua Khí Xung (Vi 30), xuống bắp
chân, mắt cá chân trong, đến ngón chân cái (TVấn.62), trở lại đến mắt cá chân
trong.
- Liên hệ với các huyệt: Hoành Cốt (Th.11), Đại Hách (Th.12), Khí huyệt
(Th.13), Tứ Mãn (Th.14), Trung Chú (Th.15), Hoang Du (Th.16), Thương Khúc
(Th.17), Thạch Quan (Th.18), Âm Đô (Th.19), Thông Cốc (Th.20) và U Môn (Th. 21).
3-
BIỂU HIỆN BỆNH LÝ
+ Ho,
suyễn, động ứng ở tay (‘Cử Thống Luận’ - TVấn.39).
+ Lưng đau, sốt. Nhiệt nhiều thì buồn phiền, dưới thắt lưng như có thêm cây nằm
ngang bên trong. Bệnh nặng thì sinh ra tiểu dầm (‘Thích Yêu Thống’ - TVấn
41).
+ Khí nghịch mà cấp (Nan 29).
+ Đái dầm, sán khí, tâm thống, tiểu không thông, họng khô (Châm Cứu Học Giảng
Nghïa).
+• Ngực
và thượng vị đau, ngực đầy, phiền, ngực có kết khối, ăn vào thì ói ra, tích
thức ăn và rượu, ruột sôi, đại tiện lỏng, ngăn nghẹn, hông sườn đầy trướng,
vùng bụng và rốn đau, trường phong hạ huyết, sốt r t, nhau thai không ra, sinh
xong bị hôn mê (Châm Cứu Học Thượng Hải).
4-
ĐIỀU TRỊ
-• Khi
mạch Xung bị rối loạn, châm huyệt Quan Nguyên (Nh 3) (‘Nghịch Điều Luận’ -
TV 34).
-• Thích tán mạch tại khe thịt trước xương gối, tức là thúc mạch, thích 3 nốt
(huyệt Địa cơ - Tz 8) (‘Thích Yêu Thống’ - TVấn.40).
-• Cách chung có thể dùng huyệt Công Tôn (Tz 4) vì đây là một trong Bát Hội
huyệt giao với mạch Xung.
Sách ‘Pathog ni Et Pathologie En Ergetiqu s En M decine Chinoise’ diễn giải như
sau:
1-Tà Khí Nhập Vào Nhánh Ngực và Mặt Qua Đường Kinh Cân Của Vùng Này.
+ Triệu
chứng: miệng và müi khô, đôi khi đau vùng chấn thủy và khó thở, có cảm giác khí
nghịch, mất tiếng và nghẹn.
+ Điều trị: dùng thủ pháp châm Lạc mạch: châm huyệt U Môn (Th.21), Thiên Đột
(Th.22), và các A Thị Huyệt ở ngực. Có thể thêm huyệt của mạch Xung ở ngực là
huyệt Đại Bao (Ty.21) và Uyên Dịch (Đ.22).
2-Tà Khí
Xâm Nhập Trực Tiếp Vào Nhánh Lên Của Xung Mạch Ở Mặt Trong Chân.
+ Triệu chứng: bàn chân lạnh lên đến gối, đôi khi đau và bị vọp bẻ ở mặt trước
đùi và bắp chân, háng đau.
+ Điều
trị: dùng thủ pháp châm Lạc mạch theo Linh Khu: châm huyệt Khí Xung (Vi.30) nếu
đau ở háng. Chân lạnh, chân đau, chuột rút: châm huyệt Nhiên Cốc (Th.2), Thái
Khê (Th.3), Đại Đô (Ty.2), Hành Gian (C.2), Tam Âm Giao (Ty.6). Các huyệt này
là nơi hội của mạch Xung.
3-Tà Khí
Xâm Nhập Vào Mạch Xung Qua Ngõ Kinh Thái Dương
Nói cách khác: tà khí xâm nhập vào mạch Xung qua huyệt Thận Du (Bq.23).
Theo thiên ‘Phong Luận’ Tố Vấn 42 thì:
*Tà khí nhập vào mặt, thường là vào kinh Dương Minh trước rồi tà khí chuyển đến
huyệt Tinh Minh (Bq.1), sau đó đi xuống đến huyệt Thận Du (Bq.23).
* Nếu tà khí nhập vào cổ, thường là qua huyệt Phong Phủ (Đc.16), chuyển xuống
kinh túc Thái Dương ở huyệt Phong Môn (Bq.12) và đi xuống huyệt Thận Du.
* Tà khí nhập vào trường vị (do ăn uống), nó theo kinh Dương Minh đến khóe
trong mắt ở huyệt Tinh Minh (Bq.1) và rồi đi xuống huyệt Thận Du.
* Tà khí tấn công kinh Cân Thái Dương rồi nhập vào kinh chính cùng tên qua
huyệt Tỉnh và Du rồi sẽ đi đến huyệt Thận Du.
Như vậy, dù vào bằng ngã nào, tà khí đều nhập vào Thận và mạch Xung qua huyệt
Thận Du với cảm giác lưng đau, cột sống đau, cơ thể nặng...
-Điều
Trị: + Tà khí ở Tạng (Thận): theo Nội Kinh, phải châm huyệt Vinh và huyệt Du +
Huyệt Mộ và Bối Du huyệt tức là: Nhiên Cốc (Th.2 - Vinh), Thái Khê (Th.3 - Du),
Kinh Môn (Đ.25- Mộ của Thận), Thận Du (Bq.23 - Bối Du).
+ Tà khí
ở Phủ: theo Nội Kinh: châm huyệt Hợp + Du và Mộ: Túc Tam L{ (Vi.36 Hợp của Vị),
Thượng Cự Hư (Vi.37 - Hợp của Đại trường), Đại Trường Du (Bối Du), Thiên Xu
Vi.25 - Mộ của Vị).
+ Tà khí
ở mạch Xung: châm huyệt Lạc (theo thiên ‘Bách Bệnh Thỉ Sinh’ - Linh Khu 66):
Nội Quan (Tb.6), Ngoại Quan (Ttu.5), Thông L{ (Tm.5), Liệt Khuyết (P.7), Chi
Chánh (Ttr.7), Thiên Lịch (Đtr.6).
4- Tà
Khí Xâm Nhập Vào Mạch Xung Qua Ngõ Mạch Đốc.
Tà khí xâm nhập trực tiếp vào huyệt Phong Phủ (Đc.16) và đến ngày 21 nó chuyển
đến xương cùng. Vào ngày thứ 22 nó chuyển vào mạch Xung để đi sâu vào 5
Tạng.
Sự
liên hệ giữa mạch Đốc và mạch Xung qua nhánh sau của mạch Xung, ở mặt trước cột
sống, được gọi là ‘Biển của Kinh Mạch’.
+ Điều Trị: theo nguyên
tắc điều trị Tạng: châm huyệt Vinh và Du vì tà khí thường đi qua 2 huyệt này.
Đồng thời châm thêm huyệt Mộ.
Không châm Bối Du huyệt vì trong trường hợp này tà khí từ mạch Đốc chứ không
phải ở kinh Thái dương đến.
Thí dụ: bệnh ở Tz chuyển vào Xung Mạch.
Châm
huyệt Vinh và Du của Tz kinh + Mộ huyệt của Tz, kết hợp với huyệt của mạch
Xung: Đại Đô (Ty.2), Thái Bạch (Ty.3), Chương Môn (C.13), Đại Hách (Th.12), và
Khí Xung (Vi.30).
+++++++++++++++++
Một số đường mạch
liên quan đến sức khỏe phụ nữ
Theo lý
luận của Đông y, 4 mạch Xung,
Nhâm, Đốc và Đới có quan hệ chặt chẽ với nhau,
phối hợp chỉ đạo các hoạt động trong suốt quá trình phát dục, phát triển cơ
thể, thai nghén, sinh sản, tạo sữa nuôi con, hành kinh, tắt kinh…
Sinh lý
học của cơ thể con người theo Đông y không ngoài sự hoạt động của âm dương,
nhưng do chức năng sinh sản mà có sự khác biệt về giới tính. Để đảm bảo được
nhiệm vụ đặc thù đó, cấu tạo cơ thể của nam và nữ có sự khác biệt về cơ quan
sinh sản để đáp ứng phù hợp với từng thời kỳ trong quá trình phát dục, kinh
nguyệt, thụ thai, sinh sản và nuôi con.
Sách nội
kinh viết: “Con gái 7 tuổi, thận khí thịnh, răng thay tóc dài; 14 tuổi mạch
nhâm thông, mạch xung thịnh, kinh nguyệt bắt đầu ra, có thể sinh con…; 21 tuổi
thận khí thịnh, cơ thể phát triển hoàn thiện sung sức, răng mọc đủ, tóc dài…;
35 tuổi mạch dương minh suy, da mặt bắt đầu thay đổi, sạm da, tóc kém mượt và
bắt đầu rụng…; 42 tuổi ba mạch dương đều suy, da mặt sạm khô, tóc bắt đầu bạc…;
49 tuổi mạch nhâm hư, mạch xung suy, kinh túc thiếu âm thận giảm, mạch xung và
mạch nhâm không thông, kinh nguyệt hết, không còn khả năng chửa, đẻ”.
Mạch
xung là bể của 12 kinh mạch, quản lý khí huyết của các cơ quan nội tạng (Nội kinh viết: “Xung
vi huyết hải”). Mạch xung cùng với mạch nhâm điều hành quá trình duy trì, phát
triển thai, sản của phụ nữ. Những biểu hiện bệnh lý của mạch xung gồm kinh
nguyệt không đều, khí hư, đái dầm, không sinh đẻ được, thoát vị, khí từ bụng
dưới thông lên ngực làm đau vùng tim, tiểu tiện bí. Mạch xung có liên quan
nhiều đến các bệnh bụng, ngực đau cấp, suyễn.
Mạch
nhâm có nhiệm vụ điều hòa phần âm của toàn thân, cùng với mạch xung điều hành quá trình
duy trì, phát triển thai, sản của phụ nữ, và có liên quan trực tiếp đến việc
sinh đẻ. Mạch nhâm có liên quan nhiều đến các bệnh thoát vị (ở nam giới), khí
hư, tích báng (u nang), khó hoặc không chửa đẻ được.
Mạch
đốc có tác dụng điều chỉnh và gây phấn chấn dương khí toàn thân, đảm bảo sự liên hệ giữa thận với huyệt
Mệnh môn để duy trì dương khí của cơ thể. Mạch đốc còn có nhiệm vụ liên lạc với
kinh Can (Gan). Những biểu hiện bệnh lý của mạch đốc gồm cột sống cứng hoặc mềm
yếu quá, vận động khó khăn, nếu bệnh nặng thì co cứng như uốn ván, hoặc đầu
váng, lưng đau.
Mạch
đới có tác dụng điều phối hoạt động của các đường kinh, làm cho chúng đi đúng đường. Đường mạch
này cũng có quan hệ với kinh nguyệt. Những biểu hiện bệnh lý của mạch đới gồm
bụng đầy chướng, lưng lạnh, có liên quan đến khí hư, hoặc chân teo liệt.
Các
huyệt vị trên 4 mạch xung,
nhâm, đốc, đới liên quan
nhiều đến sinh lý, bệnh lý của phụ nữ, đặc biệt là quá trình phát dục, thai
nghén và sinh sản. Do đó, trong quá trình phát triển phát dục đến lúc trưởng
thành (từ 7 đến 21 tuổi), nữ giới cần chú ý trong lao động, luyện tập không tác
động quá mức đến đường đi của các mạch này, làm ảnh hưởng đến chúng và đến mối
liên quan giữa các kinh mạch trên cơ thể, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc về
thể lực, vóc dáng, thẩm mỹ và quá trình thai sản.
Đặc
biệt, đối với phụ nữ, những biến động theo chu kỳ kinh nguyệt hoặc trong quá
trình chửa, đẻ, nuôi con… luôn có tác động và ảnh hưởng nhiều đến khí, huyết,
tinh thần. Nếu gặp một trong những yếu tố tâm sinh lý bất thường, như thất tình
hoặc phòng dục quá độ, sẽ khiến khí huyết suy tổn, gây ra bệnh tật và cũng tạo
cơ hội thuận lợi cho các nguồn bệnh bên ngoài xâm nhập vào cơ thể.
- Mạch
xung: từ bào cung
(dạ con) vào cột sống, nhánh nông đi từ huyệt Hội âm ra huyệt Khí xung, cùng
kinh Thiếu âm thận lên rốn, lên phân bố ở ngực, tụ lại ở họng, cuối cùng là
vòng quanh môi.
- Mạch nhâm: từ
huyệt Hội âm qua huyệt Mao tế, Quan nguyên, lên thanh quản, cằm, mặt rồi đi vào
trong mắt.
- Mạch đốc: từ
huyệt Hội âm, qua huyệt Trường cường, dọc theo cột sống lên huyệt Phong phủ,
vào não, lên đỉnh đầu (huyệt Bách hội), sang trán, lên mũi rồi kết thúc ở chân
răng hàm trên (huyệt Nhân trung).
- Mạch đới: Bắt
đầu từ dưới bờ sườn, đi chếch xuống huyệt Đới mạch, rồi vòng quanh bụng.
BS Trần
Văn Bản, Sức Khỏe & Đời Sống
Việt
Báo (Theo_VnExpress.net)
+++++++++++++++++++
Kích thích đốc mạch và nhâm mạch
để giữ thân thể khỏe mạnh.
Kết hợp
bài này với Ghế xông hồng ngoại rất tốt.
Tám năm
trước sau khi tôi đăng bài về cách thở bằng hậu môn, những thư tịch cũng viết
cách thở bằng hậu môn đua nhau ra đời. Nhưng lý do vì sao cách thở này có thể
hiệu quả thì các thư tịch đều không đăng rõ. Điều này có lý do của nó. Bởi vì
nó chỉ được bí truyền trong các đồ đệ của Đạo gia. Cuốn sách này sẽ trình bày
rõ mối quan hệ nhân quả của hiệu lực này.
Trước
khi trình bày hãy làm lại chính xác một lần cách thở bằng hậu môn. Nhưng lần
này phải dùng bàn tay đặt nhẹ nhẹ lên 2 - 3 phân vuông ở xương cụt cột
sống. Khi thở sẽ cảm giác thấy bộ vị bàn tay hơi hơi di động lên xuống, là vì
đây là nơi tập trung rất nhiều thần kinh. Đối vơi thân thể, đây là nơi của
những kinh lạc quan trọng và cũng là nơi có nhiều huyệt quan trọng có quan hệ
với nội tạng.
Nhâm
mạch chạy từ 2 - 3 phân trước hậu môn, qua rốn, hốc tim và trung
tâm mặt chính của cơ thể, lại qua kinh lạc chạy từ họng tới môi.
Hai
đường kinh lạc này ( đường thông lộ có huyệt) khi kích thích vào hậu môn, đồng
thời cũng bị kích thích làm cho khí được tuần hoàn tạo ra, năng lực cho “cách
thở hồi xuân”. Do thực hiện “ cách thở hồi xuân” ảnh hưởng vào nội thể tạo
thành một đường về có thể làm cho dòng điện (khí) đi qua thuận lợi. Cũng tức là
nói rằng: Không ngừng dùng “cách thở hồi xuân”, kích thích Đốc mạch làm cho kinh lạc này nối liền nhau,
khi được tuần hoàn, tạo thân thể khỏe mạnh.
Hơn nữa,
trên Đốc mạch và Nhâm
mạch có rất nhiều huyệt
có thể ngăn ngừa và chữa khỏi tất cả các bệnh tật của con người, cho nên, một
cách vô ý thức, tất cả các cơ quan nội tại cùng nhận được kích thích mà linh
hoạt phát huy tác dụng.
Đó là
điều bí mật làm cho “ cách thở hồi xuân” có hiệu quả to lớn. Đã biết được bí
mật của cách thở này thiết nghĩ nên hăng hái luyện tập xem ! Mỗi ngày chỉ cần 5
phút là đủ. Bây giờ hãy bỏ sách xuống thừa lúc còn chưa quên, khẩn chương bắt
tay vào tập.
Thuật
hồi xuân cho nam nữ
Kết hợp
bài này với Ghế xông hồng ngoại rất tốt.
Xem video tập thở :
---oOo---
<iframe width="560" height="315"
src="https://www.youtube.com/embed/57IkIH7yAvQ"
frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; encrypted-media;
gyroscope; picture-in-picture" allowfullscreen></iframe>
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét